Giới thiệu công ty

Sau một thời gian tìm hiểu về Sâm Ngọc Linh, mới biết Sâm Ngọc Linh là một loài sâm mới trên thế giới được phát hiện tại Việt Nam, trên địa phận Tỉnh Kontum và Quảng Nam.
Các nghiên cứu về dược tính của Sâm Ngọc Linh thì các nhà khoa học trong và ngoài nước đã đưa ra kết luận là tốt hơn rất nhiều so với các loại Sâm khác trên thế giới, nhưng thực tế người dân Việt Nam lại rất ít người biết đến Sâm Ngọc Linh, chính vì thế website Vinagin.com ra đời nhằm giới thiệu cho nhiều người biết đến loại Sâm Ngọc Linh quý này, đồng thời chính thức phân phối sản phẩm Sâm Ngọc Linh chính thống, có nguồn gốc rõ ràng và có chứng nhận vệ sinh an toàn thực phẩm của Bộ Y Tế Việt Nam, Sâm tươi chưa qua chế biến thì có giấy kiểm nghiệm của Trung Tâm Sâm và Dược Liệu TP.HCM, và hướng cho người Việt Nam dùng Sâm Việt Nam ( Viet Nam Ginseng – Vinagin.com ).

Tính đặc hữu của Sâm Ngọc Linh

Đóng góp vào sự phong phú của những loài Sâm quí giá này, ở Việt Nam cũng có 3 loài hoàn toàn mọc tự nhiên, trong đó đáng chú ý nhất là Sâm Ngọc Linh, đã và đang là niềm tự hào của đất nước chúng ta.

I. VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ PHÁT HIỆN VÀ NGHIÊN CỨU VỀ THỰC VẬT HỌC SÂM NGỌC LINH

- Trong bộ “Cây cỏ miền Nam Việt Nam”, Q.II, 1970, Phạm Hoàng Hộ có mô tả cây “Sâm Nhật”Panax schinseng Nees var. japonicum Mak.. Phân bố ở núi Langbian (Lâm Đồng) [4].

- Ngày 19 tháng 3 năm 1973, Đào Kim Long và Nguyễn Châu Giang (được biết có cả Nguyễn Thị Lê) đã phát hiện và thu được những mẫu Sâm Ngọc Linh đầu tiên ở núi Ngọc Linh, độ cao từ 1500 – 2200m, thuộc điạ phận của tỉnh Kon Tum hiện nay. Hai tác giả đặt tên cho cây thuốc này là “Sâm đốt trúc” – Panax arculeatus [7]. Đáng tiếc rằng những tiêu bản đầu tiên này hiện không còn.

- Trong một báo cáo được viết vào đầu năm 1979, về kết quả “Điều tra phát hiện cây Sâm đốt trúc ở Quảng Nam - Đà Nẵng” [8] vào thời gian trước đó (có thể vào cuối năm 1977 hoặc đầu năm 1978), Đống Việt Thắng và cộng sự đã thu được nhiều mẫu, mô tả khá đầy đủ các chi về đặc điểm hình thái. Tác giả cũng đồng quan điểm với Phạm Hoàng Hộ (1970) về tên khoa học là Panax schinseng Nees var. japonicus Mak. [4]. Và cũng từ năm 1978 tên gọi là “Sâm K5” được viết trên sách báo.

- Đến năm 1985, trong chương trình hợp tác giữa Việt Nam và Liên Xô, cây Sâm Ngọc Linh được xác định là một loài mới đối với khoa học bởi Hà Thị Dụng và I. V. Grushvitzky [1]. Từ đó Panax vietnamensis Ha et Grushv., 1985 chính thức được công bố với thế giới, nhiều nhà khoa học nước ngoài thường gọi là Sâm Việt Nam (Vietnamese ginseng). Mặc dù vậy, theo chúng tôi, tên gọi thông dụng theo tiếng Việt là SÂM NGỌC LINH có nhiều ý nghĩa cụ thể hơn.

- Phạm Hoàng Hộ, 1993, trong Q.II – T.II, trang 647 bộ “Cây cỏ Việt Nam” xuất bản ở Canada ghi: Sâm Nhật Bản (P. japonica (Nees) Mayer); phân bố: Lang Bian, Kon Tum. Đến lần xuất bản gần đây (Cây cỏ Việt Nam, Q.II, NXB trẻ, 2000, trang 515 và 516), ông đã thừa nhận có loài P. vietnamensis Dung et Grushv. ở núi Ngọc Linh (Gia Lai – Kon Tum); đồng thời vẫn bảo vệ quan điểm là loài Sâm lấy ở Lang Bian và Kon Tum là cây Sâm Nhật (Panax japonica (Nees) Mayer) [6, 7]. Đây là thông tin duy nhất cho rằng ở Kon Tum (không rõ có ở núi Ngọc Linh hay không) có 2 loài thuộc chi Panax L.. Vấn đề này cần phải kiểm chứng thêm. Tuy nhiên, mọi nghiên cứu về hoá học, dược lý, bảo tồn… chỉ thấy đề cập 1 loài là Panax vietnamensis Ha et Grushv. ở vùng núi Ngọc Linh.

II. SỰ PHÂN BỐ CỦA CÁC LOÀI THUỘC CHI PANAX L. TRÊN THẾ GIỚI [9] VÀ TÍNH ĐẶC HỮU CỦA SÂM NGỌC LINH

II.1. Phân bố của các loài thuộc chi Panax L. trên thế giới

TT

Các loài và dưới loài

 

 

Mọc  tự nhiên

Trồng

1

Panax ginseng C. A. Meyer

Trung Quốc, Triều Tiên, Nga

Trung Quốc, Triều Tiên, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Canada, Nga…

2

P. quinquefolius L.

Canada, Mỹ

Trung Quốc, Mỹ

3

P. notoginseng F. H. Chen ex C. Y. Wu et K. M. Feng

Canada, Mỹ

Trung Quốc

4

P. pseudoginseng Wall.

?

Trung Quốc, Triều Tiên, Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam

5

P. japonicus C. A. Meyer

Nhật Bản

Nhật Bản, Trung Quốc

6

P. wangianus S. C. Sun

Trung Quốc

 

7

P. zingiberensis C. Y. Wu et K. M. Feng

Trung Quốc

Trung Quốc

8

P. stipuleanatus H. T. Tsai et K. M. Feng

Trung Quốc, Việt Nam

 

9

P. bipinnatifidus  Seemann

Trung Quốc, ấn Độ, Nepal, Mianma, Việt Nam

 

10

P. bipinnatifidus  Seemann var. angustifolius (Burkill) Wen

Trung Quốc, ấn Độ, Nepal

 

11

P. trifoliatus L.

Canada, Mỹ

 

12

P. vietnamensis Ha et Grushv.

Việt Nam (Trung Quốc?)

 

Nhìn vào bản đồ phân bố của chi Nhân sâm (Panax L.) trên thế giới cho thấy, trước hết chúng chỉ xuất hiện ở Bắc bán cầu. Phân bố này kéo dài từ vùng rừng núi giáp bờ biển phía Đông của Bắc Mỹ (Canada và Mỹ) sang vùng Đông Bắc Á thuộc Liên Bang Nga, Nhật Bản, Bắc Triểu Tiên đến tận vùng Tây – Nam Trung Quốc [2, 9, 10]. Còn giới hạn theo trục Bắc – Nam của khu phân bố có thể được tính từ vùng Viễn Đông Liên Bang Nga xuống đến miền Trung của Việt Nam (P. vietnamensis Ha et Grushv.). Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh rằng, trung tâm phân bố của chi Panax L. lại ở vùng Tây – Nam của Trung Quốc lan toả xuống một phần của phía Bắc Việt Nam. Bởi vì ở đây, hiện đang có tới 7 loài và dưới loài mọc hoàn toàn tự nhiên, 2 loài trồng là P. notoginseng (nhập từ Bắc Mỹ) và P. pseudoginseng (không tìm thấy trong hoang dại, nhưng giả thiết có nguồn gốc từ vùng cận Himalaya hoặc là kết quả lai tự nhiên giữa 2 loài gần gũi nào đó). Ở Bắc Mỹ hiện có 3 loài (P. notoginseng, P. quinquefolius và P. trifoliatus) [2, 3, 9, 10]. Giới hạn cuối cùng về phía Nam của chi Panax L. là loài Sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis) của Việt Nam [1].

II.2. SÂM NGỌC LINH LÀ LOÀI ĐẶC HỮU HẸP Ở VIỆT NAM

II.2.1. Khái niệm

Khái niệm ĐẶC HỮU (Endemic) là yếu tố nhằm ám chỉ về sự phân bố địa lý (Geographical distribution) hạn chế của một Taxon (loài, chi, họ) sinh vật nào đó, xung quanh nơi phát sinh nguyên thuỷ của chúng (origin). Vì thế yếu tố đặc hữu khác với khái niệm về yếu tố “Bản địa” (Indigenous) ở chỗ, yếu tố bản địa bao gồm cả những loài sinh vật chưa rõ về nguồn gốc phát sinh, nhưng từ lâu đã thấy (trong hoang dại hay nuôi / trồng) ở một địa phương hay một vùng phân bố địa lý nhất định. Yếu tố đặc hữu không bao giờ được sử dụng đối với vật nuôi / cây trồng.

Để xác định về yếu tố đặc hữu của một taxon sinh vật, người ta phải căn cứ vào nguồn gốc phát sinh, phạm vi phân bố địa lý. Đôi khi còn phải kết hợp với cả những kiến thức về kiến tạo địa lý (thuyết tách – nhập, trôi dạt lục địa…) và cổ sinh vật. Các yếu tố đặc hữu của sinh vật thường được đề cập là:

- Đặc hữu vùng (hay khu vực): bao gồm một vùng địa lý có tính liên tục, thuộc lãnh thổ của một vài quốc gia gần nhau: Đông – Bắc Á (Viễn Đông Nga + Nhật Bản + Đông – Bắc Trung Quốc và Triều Tiên); Nam Trung Quốc – Bắc Việt Nam (tỉnh Vân Nam + Quảng Tây Trung Quốc và một phần lãnh thổ miền Bắc Việt Nam); Đông Dương (Việt Nam + Lào + Campuchia).

- Đặc hữu quốc gia: thường chỉ có trong một quốc gia nào đó. Song cũng có trường hợp phần lớn khu phân bố địa lý của loài nằm ở một quốc gia này, nhưng có một điểm phân bố (rất hẹp) thuộc quốc gia khác, liền kề về mặt địa lý với khu phân bố trung tâm. Ví dụ: trong số gần 12.000 loài thực vật bậc cao có mạch đã phát hiện ở nước ta, có tới gần 4000 loài được coi là Đặc hữu Việt Nam, trong đó có những loài có điểm phân bố ở biên giới Lào, Trung Quốc giáp Việt Nam.

- Đặc hữu hẹp: chỉ thấy phân bố trong một phạm vi địa lý hạn chế trong một quốc gia.

II.2.2. TÍNH ĐẶC HỮU HẸP CỦA SÂM NGỌC LINH

Căn cứ vào:

- Nguồn tư liệu về sự phân bố của các loài thuộc chi Nhân sâm (Panax L.) trên thế giới.

- Nguồn tư liệu về kết quả điều tra về sự phân bố của loài Sâm Ngọc Linh ở trong nước đã công bố.

- Khái niệm về yếu tố đặc hữu sinh vật kể trên.

Chúng tôi đi đến kết luận, Sâm Ngọc Linh là loài đặc hữu hẹp miền Trung Việt Nam. Bao gồm 2 điểm phân bố là núi Ngọc Linh (tỉnh Quảng Nam và Kon Tum) và núi Lang Bian (Lâm Đồng).

Tuy nhiên, hiện có một số thông tin khác cần quan tâm, đó là:

Œ Trong quá trình điều tra dược liệu ở tỉnh Quảng Nam các năm 1983, 1984, 2002), chúng tôi được một số cán bộ và đồng bào địa phương cho biết, ở một vùng núi cao thuộc huyện Hiên (giáp biên giới Lào) và một điểm khác thuộc huyện Phước Sơn, cũng có Sâm Ngọc Linh. Những thông tin này cần thiết phải có sự kiểm tra, nhất là ở huyện Hiên – nơi có khối núi cao trên 1500m và đã từng thu được mẫu của loài Ngũ gia bì gai (Acanthopanax trifoliatus) – một taxon gần kề với chi Panax L.

Trong đợt điều tra tới nếu có phát hiện được Sâm Ngọc Linh ở huyện Hiên (và kể cả Phước Sơn), thì tính đặc hữu hẹp của nó vẫn không thay đổi.

 Gần đây, khi nghiên cứu bộ tiêu bản những loài đã được xác định là P. japonicus C. A. Meyer var. japonicus P. pseudoginseng Wall. var. japonicus (C. A. Meyer) Hoo et Tseng của Trung Quốc, bà Jun Wen (Mỹ) đã phát hiện trong nhiều mẫu (thuộc 2 taxon này) có những đặc điểm về hình thái bên ngoài tương đồng với loài Sâm Ngọc Linh (P. vietnamensis Ha et Grushv.) của Việt Nam. Từ đó, tác giả này cho rằng ở miền Đông, Trung và Tây Trung Quốc cũng có loài P. vietnamensis Ha et Grushv. mọc tự nhiên [9]. Đây là thông tin đầu tiên cho biết Sâm Ngọc Linh có ở một nước thứ hai. Tuy nhiên những thông tin này hiện chưa được kiểm chứng thêm. Mặt khác, ngay trong nghiên cứu của mình, Jun Wen có sử dụng số lượng nhiễm sắc thể (2n) và DNA để so sánh giữa các loài có mặt tại Trung Quốc với các loài ở Nhật Bản, trong khi đó về thể nhiễm sắc và DNA của Sâm Ngọc Linh chưa được đề cập (hoặc chưa được nghiên cứu).

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

1. Căn cứ vào tất cả những nguồn tư liệu đã được công bố, chíng tôi cũng cho rằng SÂM NGỌC LINH (Panax vietnamensis Ha et Grushv.) là loài đặc hữu hẹp miền Trung Việt Nam.

2. Tuy nhiên, để có thêm cơ sở chắc chắn khẳng định về tính đặc hữu của nó, cần có kế hoạch điều tra thực địa về thông tin, cây Sâm cũng có ở huyện Hiên (và cả Phước Sơn). Điều tra thu thập lại loài Sâm ở Lang Bian và vấn đề định loài. Bên cạnh đó, cần tiến hành nghiên cứu cụ thể thêm về nhiễm sắc thể, DNA của Sâm Ngọc Linh (nếu chưa nghiên cứu), đồng thời với việc so mẫu trực tiếp với một số loài ở Trung Quốc khi có điều kiện.

3. Kiên quyết bảo vệ những cá thể Sâm Ngọc Linh còn sót lại ở núi Ngọc Linh. Nếu bị mất hoàn toàn trong hoang dại sẽ không còn tính đặc hữu nữa.

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

1. Ha, T.Dung Grushvitzky, I. V. 1985; A new species of the genus Panax L. (Araliaceae) from Vietnam; Bot. Zhur., 70: 518 – 522.

2. Hara, H., 1970; On the Asiatic species of genus Panax L.; J. Jap. Bot., 45: 197 – 212, pls.

3. Hoo, G. and Tseng, C. T., 1973; On the Chinese species of Panax L.; Acta phytotax. Sin.; 11: 431 – 438.

4. Phạm Hoàng Hộ, 1970; Cây cỏ miền Nam Việt Nam, Q. I, tr. 989.

5. Phạm Hoàng Hộ, 1993; Cây cỏ Việt Nam, Q. II, T.II, tr. 647.

6. Phạm Hoàng Hộ, 2002; Cây cỏ Việt Nam, Q. II.

7. Đào Kim Long và Nguyễn Châu Giang, 1991; Sơ lược quá trình phát hiện cây Sâm đốt trúc ở núi Ngọc Linh (Kon Tum), trong: Liên chi hội Dược học – Sở Y tế Quảng - Nam Đà Nẵng, Tập bài viết về lịch sử ngành Dược Khu 5 và tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng; trang 140.

8. Đống Việt Thắng và đồng sự, 1991; Điều tra phát hiện cây Sâm đốt trúc ở Quảng Nam - Đà Nẵng; trong: Liên chi hội Dược học – Sở Y tế Quảng - Nam Đà Nẵng, Tập bài viết về lịch sử ngành Dược Khu 5 và tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng; trang 173.

9. Wen, J., 2000; Species diversity, nomeneulature, phylogeny and classification of the ginseng genus (Panax L., Araliaceae); in: Proceeding of the International Ginseng Workshop “Utilization of biotechnological, genetic and cultural approachs for North American and Asian ginseng improvement”; p. 67 – 88.

10. Zhou, J.; Huang, W. G.; Wu, M. Z; et al, 1975; Triterpeniod from Panax L. and their relationship with taxonomy and geographical distribution; Acta Phytotax. Sin. Vol. 13, No 2: 29 –
 

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN

0903 32 92 92
Anh Thành

Giấy chứng nhận



Lượng truy cập

mod_vvisit_counterHôm nay15
mod_vvisit_counterHôm qua35
mod_vvisit_counterTuần này207
mod_vvisit_counterTháng này50
mod_vvisit_counterTất cả274954
Hiện có 21 khách Trực tuyến